Độ ẩm:
Gió:
[Đăng ngày: 10/11/2020]

Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao là quyền đặc biệt mà nước tiếp nhận dành cho cơ quan đại diện ngoại giao nước cử các viên chức, nhân viên của cơ quan này tại nước tiếp nhận nhằm tạo điều kiện để họ hoàn thành chức năng ngoại giao. Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương mà quan trọng nhất là Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao được thông qua tại Hội nghị Viên, Cộng hòa Áo vào ngày 14/6/1961. Nội dung của quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao Công ước Viên năm 1961 quy định tương đối rộng rãi, bao gồm các quyền như quyền bất khả xâm phạm về trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao; quyền bất khả xâm phạm về tài liệu, thư tín ngoại giao; quyền bất khả xâm phạm về thân thể viên chức ngoại giao, quyền tự do liên lạc, ưu đãi về hải quan, về thuế...

Thời điểm phát sinh và kết thúc quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao được quy định tại Điều 39 Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, theo đó người được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao có được các quyền đó ngay từ khi vào lãnh thổ nước tiếp nhận để nhậm chức; trường hợp người đó đã có mặt trên lãnh thổ nước tiếp nhận thì kể từ khi thông báo về việc bổ nhiệm người đó cho Bộ Ngoại giao hay một Bộ nào khác đã được thoả thuận. Các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao chấm dứt cùng với sự chấm dứt chức năng của viên chức hoặc nhân viên ngoại giao. Khi viên chức ngoại giao đi qua hoặc đang ở trên lãnh thổ một nước thứ ba, thì nước thứ ba cho người đó hưởng quyền bất khả xâm phạm và mọi quyền miễn trừ cần thiết khác của họ để đi nhậm chức hoặc để trở lại nhiệm sở của họ, hoặc để quay trở về nước (theo Điều 40 Công ước Viên năm 1961). Ngoài ra, các thành viên gia đình của viên chức ngoại giao cùng sống chung với người đó hay các nhân viên hành chính và kỹ thuật của cơ quan đại diện cùng các thành viên gia đình cùng sống chung với họ cũng được hưởng những quyền ưu đãi và miễn trừ và việc này được quy định cụ thể tại Điều 37 của Công ước.

Mở đầu Công ước Viên 1961, ngay Lời nói đầu Công ước này đã thể hiện rõ ràng việc pháp luật quốc tế quy định nước tiếp nhận phải dành các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao cho cơ quan đại diện ngoại giao, viên chức và nhân viên của cơ quan đại diện ngoại giao nhưng “không phải để làm lợi cho các cá nhân mà để bảo đảm cho các cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện có hiệu quả các chức năng của họ, với tư cách là đại diện cho các nước. Vì lẽ đó, các viên chức, nhân viên ngoại giao không được lợi dụng các quyền ưu đãi và miễn trừ này để tiến hành các hoạt động vượt quá giới hạn cho phép hoặc nhằm chống lại nước tiếp nhận. Nếu vi phạm, nước tiếp nhận có thể ra tuyên bố không chấp nhận đối với người đó (thuật ngữ ngoại giao gọi là “persona-non-grata”, nghĩa là “người không được hoan nghênh”).

Bên cạnh việc các cơ quan đại diện ngoại giao, viên chức và nhân viên của cơ quan đại diện ngoại giao được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao như trên, thì các cơ quan lãnh sự và viên chức lãnh sự được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ theo Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự. Về cơ bản thì ưu đãi và miễn trừ lãnh sự gần như ưu đãi và miễn trừ ngoại giao.

Trên cơ sở phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật có liên quan quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao như Pháp lệnh Hải quan năm 1990, Pháp lệnh về Quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993, Nghị định số 73/CP ngày 30/7/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về quyền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam./.

                                                                                                    Nguyễn Loan






Đang online: 29

Số lượt truy cập: 821405