Độ ẩm:
Gió:
[Đăng ngày: 23/12/2020]

Thẻ ABTC hay còn được gọi là Thẻ đi lại của doanh nhân APEC (APEC Business Travel Card) là một loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước và vùng lãnh thổ tham gia Chương trình thẻ đi lại của doanh nhân APEC cấp cho doanh nhân của mình để tạo thuận lợi cho việc đi lại thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh, thương mại, đầu tư, dịch vụ; tham dự các hội nghị, hội thảo và các mục đích kinh tế khác tại các nước và vùng lãnh thổ thuộc APEC tham gia Chương trình. Người mang thẻ ABTC, khi nhập cảnh, xuất cảnh các nước và vùng lãnh thổ có tên ghi trong thẻ thì không cần phải có thị thực của các nước và vùng lãnh thổ đó. Thẻ ABTC có thời hạn sử dụng 05 năm kể từ ngày cấp và không được gia hạn, trường hợp hết thời hạn sử dụng sẽ được cấp thẻ mới.

Hiện nay, có 19 nước và vùng lãnh thổ tham gia chương trình thẻ ABTC gồm: Úc, Brunei, Chi-lê, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand, Papua New Guinea, Pê-ru, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam, Nga, Mê-hi-cô.

Tại Việt Nam, việc cấp và quản lý thẻ ABTC được thực hiện theo 03 văn bản quy phạm pháp luật gồm: Quyết định số 45/2006/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại của Doanh nhân APEC; Quyết định số 54/2015/QĐ-TTg ngày 29/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế về việc cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC ban hành kèm theo Quyết định số 45/2006/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư số 28/2016/TT-BCA ngày 05/7/2016 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Quy chế cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC.

 

Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan việc cấp và quản lý thẻ ABTC

Thời gian qua, tỉnh Khánh Hòa có khá nhiều trường hợp doanh nghiệp đề nghị cấp phép cho doanh nhân sử dụng thẻ ABTC. Trong năm 2020, mặc dù ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng nhu cầu xin cấp thẻ cũng không giảm; từ đầu năm đến nay, Sở Ngoại vụ đã tiếp nhận hồ sơ của 10 doanh nghiệp đề nghị cấp phép cho tổng cộng 18 doanh nhân được sử dụng thẻ ABTC. Tuy nhiên, hầu hết hồ sơ các doanh nghiệp nộp còn nhiều thiếu sót, chưa đủ cơ sở để Sở Ngoại vụ xem xét, giải quyết. Qua quá trình giải quyết hồ sơ, Sở Ngoại vụ tổng kết một số thiết sót mà doanh nghiệp thường mắc phải và cũng là yếu tố quan trọng nhất để không được xét duyệt hồ sơ:

- Chưa chứng minh được khả năng hợp tác với đối tác của các nước hoặc vùng lãnh thổ là thành viên Chương trình thẻ ABTC. Thông thường, để chứng minh được khả năng hợp tác, doanh nghiệp cần cung cấp được các hợp đồng ngoại thương, hợp đồng dịch vụ giao kết với đối tác của các nước hoặc vùng lãnh thổ nói trên, L/C, vận đơn, tờ khai hải quan, hóa đơn mua bán,…

Tuy nhiên, trên thực tế, đa phần các doanh nghiệp chỉ cung cấp được 01 hợp đồng ngoại thương, mà giá trị giao kết cũng khá thấp (dưới 01 tỷ đồng, có khi chỉ hơn 100 triệu đồng), không thể chứng minh được khả năng hợp tác lâu dài và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Các trường hợp này, Sở Ngoại vụ sẽ hướng dẫn và yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thêm các hợp đồng ngoại thương khác, được giao kết trong các năm gần nhất để cho thấy sự hợp tác liên tục với đối tác hoặc khả năng tìm kiếm thị trường mới.

 

Chuyên viên Sở Ngoại vụ giải đáp thắc mắc và hướng dẫn thành phần hồ sơ cho doanh nghiệp tại
tỉnh Khánh Hòa có nhu cầu xin phép sử dụng thẻ ABTC

- Thời hạn sử dụng của hộ chiếu của doanh nhân còn quá ngắn. Vì thẻ ABTC có thời hạn sử dụng 05 năm kể từ ngày cấp và không được gia hạn nên khi nộp hồ sơ, hộ chiếu của doanh nhân tốt nhất nên còn thời hạn trên 05 năm. Mặc dù Thông tư số 28/2016/TT-BCA có quy định hộ chiếu của doanh nhân còn thời hạn dưới 05 năm thì thời hạn của thẻ mới được cấp bằng thời hạn của hộ chiếu đó. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nên tính toán để cộng thêm vào đó thời gian làm thủ tục xin phép sử dụng thẻ ABTC tại địa phương và thời gian làm thủ tục cấp thẻ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an. Do đó, các trường hợp hộ chiếu của doanh nhân còn thời hạn dưới 01 năm, thông thường Sở Ngoại vụ sẽ hướng dẫn doanh nghiệp nộp hồ sơ xin phép sử dụng thẻ ABTC khi doanh nhân đã được cấp hộ chiếu mới.

- Doanh nghiệp chưa chấp hành tốt các quy định pháp luật. Sở Ngoại vụ chỉ giải quyết, tham mưu văn bản trình Ủy ban nhân dân tỉnh đồng ý chủ trương cho doanh nhân được sử dụng thẻ ABTC nếu doanh nghiệp chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không nợ thuế, không nợ bảo hiểm xã hội, không vi phạm quy định về hải quan,… Bản thân doanh nhân cũng không được có hành vi vi phạm pháp luật và không thuộc diện chưa được phép xuất cảnh theo quy định của pháp luật.

Vì đây thủ tục xin phép sử dụng thẻ ABTC tại địa phương không phải là thủ tục hành chính nên không có quy định cụ thể, rõ ràng về số lượng hồ sơ, tài liệu cần nộp khiến nhiều doanh nghiệp mới xin phép sử dụng thẻ lần đầu còn bỡ ngỡ. Hồ sơ xin phép sử dụng thẻ ABTC Sở Ngoại vụ nhận từ doanh nghiệp để giải quyết thường bao gồm:

  1. Công văn xin phép sử dụng thẻ ABTC do doanh nghiệp gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Sở Ngoại vụ;
  2. Các hồ sơ, tài liệu liên quan đến doanh nhân cần sử dụng thẻ ABTC gồm: Tờ khai các thông tin cá nhân cơ bản của doanh nhân, sổ hộ chiếu (phô tô đầy đủ cả sổ nếu có xuất cảnh), chứng minh nhân dân/thẻ căn cước công dân, bảo hiểm xã hội (phô tô nguyên cả sổ để chuyên viên xử lý hồ sơ kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của doanh nhân tại doanh nghiệp có tương ứng với chức vụ, vị trí xin cấp thẻ); trường hợp không cung cấp được, đề nghị giải trình về việc tại sao không tham gia bảo hiểm xã hội (lưu ý phải căn cứ theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 để giải trình), hợp đồng lao động và phụ lục hợp đồng lao động (nếu có), quyết định bổ nhiệm chức vụ, vị trí,…
  3. Hồ sơ, tài liệu chứng minh năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng hợp tác với đối tác của các nước hoặc vùng lãnh thổ là thành viên Chương trình thẻ ABTC gồm: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (để xem xét phần vốn điều lệ) và các hợp đồng ngoại thương, hợp đồng dịch vụ giao kết với đối tác của 19 nước hoặc vùng lãnh thổ nói trên, L/C, vận đơn, tờ khai hải quan,…
  4. Doanh nghiệp nộp thành 02 bộ hồ sơ, nộp trực tiếp tại Sở Ngoại vụ (không nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân tỉnh). Đối với các tài liệu có sử dụng tiếng nước ngoài làm ngôn ngữ chính, đề nghị doanh nghiệp nộp thêm bản dịch tiếng Việt của tài liệu đó.
                                                                                                                         Thanh Bình





Đang online: 9

Số lượt truy cập: 849550