Độ ẩm:
Gió:
[Đăng ngày: 23/12/2020]

TGVN. Bảy loại thư tín ngoại giao thường dùng trong giao dịch giữa các Cơ quan đại diện với Bộ Ngoại giao hay một cơ quan chính quyền nước sở tại là những loại nào?

Các thư tín ngoại giao thường được sử dụng gồm các loại sau:

1. Công hàm chính thức hay Công hàm thường:

Đây là loại công văn thường dùng nhất trong công việc giao dịch. Công hàm chính thức có thể đề cập những việc thông thường như thông báo thay đổi giờ làm việc nhưng cũng có những việc quan trọng liên quan đến quan hệ giữa hai quốc gia như thông báo việc phê chuẩn một văn kiện được ký kết hay chuyển một đề nghị của chính phủ.

Về hình thức, công hàm được đánh máy trên khổ giấy lớn, thông thường là khổ giấy A4, có in hình quốc huy và tiêu đề cơ quan gửi. Lời văn trong công hàm dùng ở ngôi thứ ba, lời lẽ thường khô khan, sử dụng công thức lịch thiệp khi mở đầu và kết công hàm. Địa điểm, ngày tháng năm (ghi đầy đủ) để cuối công hàm. Người nhận luôn ghi ở cuối cùng của trang thứ nhất. Nếu công hàm gồm hai hay nhiều trang, chỉ trang thứ nhất có in hình quốc huy, tiêu đề cơ quan và người nhận. Công hàm thông thường được ký nháy và đóng dấu cơ quan.

Nhiều nước không có sự phân biệt giữa công hàm chính thức và công hàm thường vì hình thức và lĩnh vực công việc trao đổi trong hai loại công hàm không có sự phân biệt, tuy nhiên có một số nước ví dụ như Pháp, đối với công hàm thường thì có đề chữ "Công hàm thường" ở đầu trang thứ nhất và công hàm chính thức thì có thể ký nháy hoặc được ký đầy đủ.

2. Công hàm cá nhân hay còn gọi là thư chính thức:

Đây là một hình thức thư tín ngoại giao trao đổi giữa các viên chức của Cơ quan đại diện với quan chức của quốc gia hay tổ chức tiếp nhận. Nội dung của công hàm này không hạn chế vấn đề đề cập nhưng thông thường là những vấn đề có tầm quan trọng đáng kể.

Ví dụ như chuyển ý kiến của chính phủ nước mình, thông báo của Đại sứ gửi các Đại sứ nước ngoài khác về việc đã trình Quốc thư và chính thức nhận chức hay thông báo cử Đại biện lâm thời...

Về hình thức, công hàm cá nhân được đánh máy trên khổ giấy lớn, thông thường là khổ giấy A4, có in tiêu đề của người viết thư và tùy theo tính đại diện của người viết có quốc huy hoặc không có quốc huy. Lời văn trong công hàm dùng ở ngôi thứ nhất. Mở đầu thư với công thức xưng hô lịch thiệp, nêu rõ chức vụ và tước hiệu (nếu có) của người nhận. Địa điểm, ngày tháng năm (ghi đầy đủ) để đầu công hàm. Nếu công hàm gồm hai hay nhiều trang, chỉ trang thứ nhất có in tiêu đề người gửi. Công hàm được ký đầy đủ và ghi rõ họ tên người gửi. Công hàm cá nhân thường không đóng dấu cơ quan.

3. Công hàm tập thể:

Đây là công hàm do hai hay nhiều Cơ quan đại diện gửi một cơ quan nhà nước hay tổ chức quốc tế tiếp nhận để bày tỏ thái độ hay quan điểm chung về một vấn đề. Công hàm tập thể có thể làm một bản chung do những người đại diện các cơ quan cùng ký tên, trong trường hợp này công hàm được trao tay trong một cuộc gặp có mặt của các đại diện ký tên với người nhận công hàm. Công hàm tập thể có thể do từng đại diện làm riêng biệt nhưng các công hàm này được viết với lời văn giống nhau và được gửi cùng một lúc.

Về hình thức công hàm tập thể làm giống như công hàm cá nhân.

4. Công hàm tương tự

Đây là một loại công hàm tập thể nhưng từng đại diện làm và gửi riêng biệt.

Nội dung công hàm giống nhau nhưng lời văn có thể khác nhau và không nhất thiết phải gửi cùng một lúc.

5. Bị vong lục

Đây là loại thư tín ngoại giao giải thích chi tiết, cụ thể một vấn đề đã được đặt ra hoặc ghi lại những ý kiến chính, những sự việc cụ thể về một vấn đề đã được bàn bạc, trao đổi nhằm tránh hiểu lầm hay nhắc nhở xúc tiến giải quyết. Bị vong lục thường được trao tay trong một cuộc gặp.

Về hình thức, bị vong lục có thể được đánh máy trên giấy khổ lớn, thông thường là khổ A4, có tiêu đề hoặc không có tiêu đề cơ quan. Lời văn viết ở ngôi thứ ba; nội dung ngắn gọn, rõ ý; ngày, tháng, năm đề ở cuối văn bản.

Bị vong lục không có phần xưng hô hay công thức lịch thiệp, không ký tên hay đóng dấu cơ quan.

6. Giác thư

Đây là một loại thư tín trình bày chi tiết các sự kiện cụ thể, lý lẽ, lập trường, quan điểm về một vấn đề nào đó. Giác thư thường được gửi kèm theo một công hàm thường.

Về hình thức, giác thư được đánh máy trên khổ giấy lớn, thường là khổ A4. Về cơ bản, giác thư không khác mấy so với công hàm thường. Trong giác thư không dùng công thức lịch thiệp, không ký tên và không đóng dấu.

7. Thư riêng

Là một loại thư tín ngoại giao trao đổi giữa những thành viên Cơ quan đại diện và quan chức của quốc gia hay tổ chức tiếp nhận đồng cấp hoặc cấp bậc, chức vụ không quá chênh lệch.

Nội dung thư riêng là việc công trong phạm vi chức năng của người viết và người nhận nhưng được trao đổi một cách không chính thức. Thư riêng thường dùng mối quan hệ cá nhân để thúc đẩy công việc được nhanh chóng và thuận lợi.

Về hình thức, thư riêng viết trên giấy khổ lớn, có thể có tiêu đề hoặc không có tiêu đề của người viết. Lời văn trong thư riêng dùng ở ngôi thứ nhất, hành văn như một thư bình thường, không dùng những công thức lịch thiệp theo khuôn mẫu như đối với công hàm cá nhân.

Theo thông lệ lễ tân ngoại giao, khi trả lời những vấn đề được nêu ra trong thư tín ngoại giao, người ta dùng loại thư tín tương tự như thư tín đã nhận được.

Theo baoquocte.vn

https://baoquocte.vn/ban-da-biet-ve-7-loai-thu-tin-ngoai-giao-thuong-dung-phan-1-131487.html






Đang online: 16

Số lượt truy cập: 849573